Thưa Thầy, Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị đã đánh dấu một bước ngoặt khi coi Văn hóa được xác định là một trong bốn trụ cột chiến lược của sự phát triển quốc gia (cùng với kinh tế, chính trị, xã hội) và là nguồn lực nội sinh, hệ điều tiết quan trọng để phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, ngành Quản trị tài nguyên si sản tại nhà S đang thực hiện sứ mệnh chuyển đổi từ việc "bảo tồn tĩnh" sang "quản trị động" để tạo ra sức mạnh mềm cho đất nước như thế nào?
Khi văn hóa được xác định là nguồn lực nội sinh, điều đó hàm nghĩa rằng di sản không còn được nhìn như một "kho báu cần khóa kỹ", mà là một tài nguyên sống. Nguồn tài nguyên này có khả năng tái sinh, lan tỏa giá trị và sinh ra những giá trị mới khi được quản trị đúng cách.
Chính vì vậy, ngay từ tên gọi, chương trình của chúng tôi không phải là "Bảo tồn di sản" mà là "Quản trị tài nguyên di sản" (Heritage Resources Management) - một lựa chọn có chủ đích về mặt triết lý đào tạo.
Sự chuyển dịch từ "bảo tồn tĩnh" sang "quản trị động" được thiết kế xuyên suốt khung chương trình. Sinh viên không chỉ học học phần Bảo tồn và phát huy di sản (HRM3002) như một học phần độc lập, mà còn được tiếp cận chuỗi học phần liên ngành: Quản trị và di sản (HRM3001), Quản trị doanh nghiệp liên quan đến di sản (HRM3004), Du lịch di sản bền vững (HRM2013), Truyền thông Marketing tích hợp (BRM3007), Ứng dụng công nghệ trong quản lí, bảo vệ và phát huy di sản (HRM3003). Đây chính là kiến trúc của "quản trị động", nơi di sản được nhìn như một hệ sinh thái có sự tham gia của nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp, công nghệ và thị trường.
Sức mạnh mềm không tự nhiên mà có. Nó cần những con người biết cách kể câu chuyện di sản theo cách mà thế giới muốn lắng nghe, biết chuyển hóa giá trị di sản thành sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh, đồng thời vẫn bảo vệ được giá trị cốt lõi của di sản trong quá trình đó. Sứ mệnh của chúng tôi là đào tạo những con người có thể thực hiện đồng thời cả ba điều ấy.
Việc chuyển dịch từ tư duy "dựa vào ngân sách nhà nước" sang "xã hội hóa và phát triển công nghiệp văn hóa" đòi hỏi người học phải có tư duy của một nhà kinh tế hay một nhà văn hóa? Thầy cho biết trong chương trình đào tạo của trường đã xử lý được sự chuyển dịch này như thế nào?
Câu trả lời là: cả hai, và hơn thế nữa.
Một nhà quản trị di sản thế hệ mới không thể chỉ là một nhà văn hóa, bởi khi đó sẽ thiếu công cụ và kỹ năng để phát huy giá trị di sản trong bối cảnh đương đại. Nhưng cũng không thể chỉ là nhà kinh tế, hoặc chỉ nhắm đến các mục tiêu kinh tế, bởi nếu chỉ theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, các giá trị do sản có thể bị tổn hại.
Điều cần thiết là một tư duy liên ngành: hiểu kinh tế đủ sâu để xây dựng ý tưởng, lập kế hoạch, vận hành, và hợp tác. Cùng với đó và hết sức quan trọng, các kiến thức toàn diện về di sản giúp người làm luôn hiểu đặc trưng từng loại hình di sản mình tiếp cận và cách thức phù hợp, cụ thể nhất để vừa bảo vệ và phát huy các di sản này.
Khung chương trình giải quyết sự chuyển dịch này thông qua cấu trúc hai trục song hành:
Trục văn hóa - di sản gồm các học phần nền tảng như Cơ sở văn hóa Việt Nam, Đại cương nghiên cứu văn hoá và di sản, Di sản và các loại hình di sản ở Việt Nam, Nhân học về di sản, Công ước, pháp luật và thực thi chính sách về di sản. Đây là tri thức di sản nền tảng đảm bảo sinh viên hiểu di sản từ bên trong, không bị thị trường hóa một cách hời hợt.
Trục quản trị - kinh tế - sáng tạo gồm Quản trị học, Kinh tế học đại cương, Nguyên lý Marketing, Quản trị nguồn nhân lực, Khởi sự kinh doanh, Nhập môn Công nghiệp văn hóa và sáng tạo, Thương hiệu, PR và quảng cáo, Marketing tài nguyên di sản. Đây là phần kiến thức và kỹ năng liên ngành linh hoạt để di sản vươn ra ngoài bảo tàng, tiếp cận công chúng và thị trường.
Hai trục này được kết nối nâng cao qua các học phần tích hợp như Xây dựng và quản lí dự án di sản (HRM3005), Du lịch di sản bền vững (HRM2013), và đặc biệt là 15 tín chỉ thực hành, thực tập nghề nghiệp giúp sinh viên phải áp dụng đồng thời cả hai tư duy trong tình huống thực tế.
Đó chính là cách chương trình được thiết kế một cách hệ thống, nhằm đảm bảo cho sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể kết nối tư duy bảo vệ di sản văn hóa và nâng cao giá trị kinh tế cho các di sản này một cách hiệu quả.
Để học tập thành công ngành này, sinh viên có cần phải là một "mọt sách" lịch sử, hay cần những tố chất của một người làm sáng tạo và quản trị hiện đại? Đâu là DNA quan trọng nhất mà nhà trường tìm kiếm ở một tân sinh viên?
Nếu chỉ là "mọt sách" lịch sử, sinh viên sẽ học rất giỏi học phần Lịch sử Việt Nam đại cương nhưng có thể chật vật khi phải thiết kế một sản phẩm truyền thông về di sản, hoặc đàm phán với cộng đồng địa phương trong một dự án du lịch. Ngược lại, nếu chỉ giỏi sáng tạo và quản trị mà thiếu chiều sâu văn hóa, các em sẽ tạo ra những "sản phẩm di sản" nhanh chóng bị chính cộng đồng từ chối, hoặc tệ hơn là góp phần làm méo mó di sản.
Vì vậy, DNA mà chúng tôi tìm kiếm không phải là một phẩm chất đơn lẻ, mà là bốn nét tính cách hội tụ:
- Thứ nhất là Sự tò mò có chiều sâu, là sự không hài lòng với câu trả lời bề mặt, luôn muốn hỏi tại sao cộng đồng này lại làm như vậy?, ý nghĩa thật sự đằng sau nghi lễ này là gì?
- Thứ hai là Khả năng kết nối khác biệt, là khả năng nhìn thấy, chẳng hạn, mối liên hệ giữa một làn điệu dân ca và một chiến lược thương hiệu, giữa kiến trúc cổ và thiết kế không gian đương đại.
- Thứ ba là Tinh thần dấn thân thực địa, là tinh thần và kỹ năng không ngại đi đường xa, ngủ nhà sàn, sinh hoạt cùng cộng đồng, vì di sản sống động không nằm trong sách
- Thứ tư là Đạo đức nghề nghiệp, mà ý thức rằng mỗi quyết định của mình có thể ảnh hưởng đến ký ức tập thể của cả một cộng đồng.

Sinh viên Di sản mang tinh thần dấn thân thực địa
Quản trị tài nguyên di sản là một ngành học đặc thù. Thầy mong đợi gì ở khả năng thấu cảm của người học trước những giá trị quá khứ nhưng lại có cái nhìn sắc sảo về nhu cầu của thị trường tương lai?
Trong ngành của chúng tôi, có một phẩm chất tôi luôn nhấn mạnh với sinh viên: thấu cảm văn hóa (cultural empathy), cụ thể hơn, khả năng đặt mình vào vị trí của người trong cuộc để hiểu vì sao một cái cây, một bài hát, một nghi lễ lại quan trọng đến thế với một cộng đồng. Không có phẩm chất này, mọi kỹ thuật bảo tồn hay chiến lược marketing đều có thể trở thành sự áp đặt từ bên ngoài.
Nhưng thấu cảm thôi chưa đủ. Một nhà quản trị di sản giỏi cần thấu cảm theo hai hướng đồng thời: hướng về cộng đồng chủ thể di sản để hiểu họ thật sự muốn gì, sợ gì, kỳ vọng gì. Cùng với đó là hướng về công chúng đương đại để biết họ đang tìm kiếm điều gì khi đến với di sản, vì sao một bạn trẻ Gen Z lại sẵn sàng xếp hàng để xem triển lãm số về Hoàng thành Thăng Long, hay vì sao du khách quốc tế lại trả tiền để tham gia một nghi lễ Then ở Cao Bằng.
Khả năng thấu cảm hai chiều này được rèn luyện rất cụ thể trong chương trình: qua học phần Di sản và cộng đồng (HRM2011), Phương pháp nghiên cứu khoa học và điền dã (HRM2012), và qua hoạt động thực địa liên ngành, nơi sinh viên đi đến các địa điểm di sản, trò chuyện trực tiếp với người dân, nghệ nhân, và sau đó quay trở lại để thiết kế sản phẩm. Chính trong khoảng giữa "ngồi nghe bà kể chuyện" và "trình bày ý tưởng dự án" các em học được cách bắc cây cầu giữa quá khứ và thị trường.
Nhiều người e ngại ngành Di sản học sẽ khô khan. Giảng viên đã đổi mới các bài giảng tại nhà S như thế nào để biến những tư liệu cũ kỹ trở thành những dự án sáng tạo đầy cảm hứng (ví dụ: số hóa di sản, du lịch trải nghiệm, hay thiết kế sản phẩm văn hóa)?
Ở ngành di sản tại nhà S, các bạn sẽ thấy rằng di sản chưa bao giờ khô khan. Một ngôi đình làng không phải là kiến trúc gỗ chết, nó là sân khấu của hàng trăm năm hội hè, tranh chấp, hòa giải, yêu đương của cả một cộng đồng. Vấn đề chỉ là chúng ta có giúp sinh viên nhìn thấy điều đó hay không.
Cách đối mới của chúng tôi không phải là thêm hiệu ứng cho slide, mà là chuyển dịch toàn bộ logic dạy - học. Thay vì giảng lý thuyết trước rồi áp dụng sau, chúng tôi thiết kế lớp học theo lối dự án dẫn dắt (project-based learning): sinh viên bắt đầu từ một câu hỏi thực tế, ví dụ: làm thế nào để một lễ hội dân gian ở Tả Van thu hút được du khách trẻ mà không mất đi linh hồn của nó?, rồi từ đó các em cần đến lý thuyết để giải quyết.

TS. Trần Hoài tiên phong đổi mới phương pháp học tập dựa vào dự án
Cụ thể, các học phần Thiết kế sản phẩm truyền thông về di sản (HRM3011), Phim và nhiếp ảnh về di sản (HRM3010), Sự kiện văn hóa nghệ thuật (LEM2021), Ứng dụng công nghệ trong quản lí, bảo vệ và phát huy di sản (HRM3003) đều có sản phẩm đầu ra cụ thể: phim ngắn, triển lãm, sự kiện, mô hình số hóa, ứng dụng AR. Sinh viên năm hai đã có thể làm ra một bộ ảnh nghệ thuật về làng nghề; năm ba có thể tham gia thiết kế trải nghiệm cho một bảo tàng địa phương; năm tư có thể chủ trì một dự án nhỏ về du lịch cộng đồng.
Và đây là điều quan trọng nhất: chúng tôi tin rằng không có tư liệu nào cũ kỹ, chỉ có những câu hỏi cũ kỹ. Khi sinh viên đặt câu hỏi mới, ngay cả một tấm bia đá nghìn năm cũng kể câu chuyện mới.
Tại nhà S, sự giao thoa giữa Kiến trúc, Nghệ thuật và Quản trị đã tạo ra những liên kết độc đáo nào cho sinh viên Di sản trong việc thực hành liên ngành ngay tại trường?
Đây chính là lợi thế cạnh tranh độc nhất của sinh viên QTTNDS tại VNU-SIS mà ở các cơ sở đào tạo di sản khác trong cả nước hiện chưa có. Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật không chỉ tuyên bố "liên ngành" trong văn bản, mà liên ngành đã được cấu trúc hóa ngay từ kiến trúc của trường: cùng một mái nhà với các ngành Kiến trúc - Thiết kế, Nghệ thuật thị giác, Quản trị thương hiệu, Quản lý giải trí và sự kiện, Công nghệ truyền thông…
"Cú hích" diễn ra ở ba lớp:
Lớp khóa học chia sẻ, nơi sinh viên QTTNDS học các học phần Tư duy thiết kế (SIS1004), Tư duy sáng tạo và phản biện (SIS1003), Các loại hình nghệ thuật ở Việt Nam (CRD1012), Nhập môn Công nghiệp văn hóa và sáng tạo (LEM2002) có những giờ học với sự tham gia của sinh viên các ngành khác. Lớp học vì thế tự nhiên trở thành không gian va chạm ý tưởng giữa một bạn học di sản và một bạn học thiết kế đồ họa.
Lớp dự án liên ngành, gồm các học phần thực hành (HRM4061, HRM4062, HRM4063) đều khuyến khích sinh viên kết nối với bạn ở ngành kiến trúc để hình dung không gian trưng bày, với ngành nghệ thuật để xử lý phần thị giác, với ngành quản trị để xây dựng mô hình tài chính.
Các buổi thực địa, các câu lạc bộ, nhóm nghiên cứu khoa học sinh viên, các đợt thực địa "Di sản phiêu lưu ký" nơi sinh viên có thể mở mang kiến thức qua thực địa và thực tế.
Kết quả là một sinh viên QTTNDS năm cuối tại VNU-SIS hiểu ngôn ngữ của nhà thiết kế, đọc được bản vẽ kiến trúc, biết đọc bảng tài chính cơ bản, và có thể bước vào bất kỳ cuộc họp dự án nào với tư cách là người dịch giữa các chuyên gia chứ không phải chỉ là chuyên gia đơn ngành.
Trong cộng đồng người học nhà S, sinh viên Quản trị tài nguyên di sản thường đóng vai trò là người kể chuyện hay là người kết nối các nguồn lực? Thầy muốn thấy các em tương tác với các bạn ngành khác thế nào để tạo nên một hệ sinh thái sáng tạo?
Trên thực tế, sinh viên QTTNDS đảm nhiệm cả hai vai trò, và đó chính là sức mạnh đặc thù của ngành này. Các em vừa là người kể chuyện (storyteller) vì các em có chất liệu, có chiều sâu văn hóa, có khả năng làm cho một mảnh ngói vỡ trở nên đầy ý nghĩa. Các em cũng vừa là người kết nối nguồn lực (resource connector) vì các em được trang bị tư duy quản trị, hiểu các bên liên quan (nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp, công chúng), và biết cách dàn xếp lợi ích.
Trong một dự án văn hóa tiêu biểu tại nhà S, tôi thường thấy sinh viên ngành Thiết kế lo phần thị giác, sinh viên Quản lý giải trí và sự kiện lo phần vận hành, sinh viên Công nghệ lo phần kỹ thuật và sinh viên QTTNDS thường ở vị trí trung tâm: người giữ ý nghĩa của dự án, người đảm bảo rằng mọi sáng tạo đều có nền tảng văn hóa vững chắc, mọi quyết định đều tôn trọng cộng đồng chủ thể.
Tôi muốn thấy các em không tự nhốt mình trong vai chuyên gia di sản đơn thuần, mà chủ động đề xuất ý tưởng, chủ động mời gọi các bạn ngành khác cùng làm. Hệ sinh thái sáng tạo không tự sinh ra mà nó cần những người đứng ra mở cửa ngồi nhà của mình. Sinh viên QTTNDS, theo cách nhìn của tôi, chính là những người mở cửa ấy: mở cánh cửa của di sản để các ngành khác bước vào, và cùng nhau làm cho di sản sống tiếp.
Khi bước vào Cộng đồng nghề nghiệp, giữa các chuyên gia bảo tồn thuần túy, chân dung sinh viên tốt nghiệp từ nhà S sẽ tỏa sáng với hình ảnh một Nhà quản trị di sản thông minh ra sao?
Cần khẳng định ngay: chúng tôi không định đối lập với các chuyên gia bảo tồn truyền thống, họ là những người đáng kính, và bản thân chương trình của chúng tôi cũng trang bị kiến thức bảo tồn rất căn bản. Điều chúng tôi muốn bổ sung cho thị trường lao động di sản Việt Nam là một kiểu "Nhà quản trị di sản thông minh" (smart heritage manager).
Sinh viên tốt nghiệp nhà S có ba lớp năng lực hội tụ. Lớp thứ nhất là nền tảng học thuật vững, hiểu di sản từ góc độ khảo cổ, lịch sử, văn hóa, nhân học, pháp luật quốc tế và Việt Nam (bao gồm Luật Di sản văn hóa, các Công ước UNESCO). Lớp thứ hai là bộ công cụ quản trị - kinh doanh - truyền thông - công nghệ mà phần lớn chuyên gia bảo tồn truyền thống không có cơ hội được đào tạo bài bản. Lớp thứ ba và là điều đáng quý là tư duy liên ngành và đạo đức nghề nghiệp.
Khi bước vào thị trường, các em không cạnh tranh trực tiếp với các chuyên gia bảo tồn lâu năm về kỹ thuật trùng tu cổ vật mà bổ sung thêm những kỹ năng cho các công việc mà thị trường công việc về di sản ở Việt Nam đương đại đang rất thiếu: quản lý dự án di sản, marketing di sản, du lịch di sản bền vững, công nghiệp văn hóa, số hóa di sản, gây quỹ và vận động chính sách, kết nối giữa di sản và doanh nghiệp. Đó chính là không gian mà nhà quản trị di sản thông minh tỏa sáng.
Bốn năm nữa, khi các ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam thực sự bùng nổ, đâu là 'vùng đất hứa' cho sinh viên tốt nghiệp ngành này? Thách thức lớn nhất khi các em phải cân bằng giữa việc kiếm tìm lợi nhuận và bảo vệ tính nguyên bản của di sản là gì?
Bốn năm là khoảng thời gian đủ để cả một thế hệ ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam định hình. Theo quan sát của tôi, sẽ có ít nhất năm "vùng đất hứa" đang chờ đón sinh viên QTTNDS.
Thứ nhất, mảng du lịch di sản và du lịch cộng đồng, đặc biệt ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng có di sản UNESCO - đang chuyển mình mạnh mẽ và rất thiếu nhân lực được đào tạo bài bản.
Thứ hai, các tập đoàn lớn (Sun Group, Vingroup, FLC, các thương hiệu khách sạn quốc tế) ngày càng cần chuyên viên hiểu di sản để thiết kế trải nghiệm cho khách hàng.
Thứ ba, mảng số hóa di sản, bảo tàng số, ứng dụng AR/VR/AI trong di sản đang là làn sóng toàn cầu mà Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu.
Thứ tư, lĩnh vực phi chính phủ và hợp tác quốc tế (với các tổ chức như UNESCO, JICA, KOICA, các quỹ văn hóa châu Âu) luôn cần nhân lực địa phương được đào tạo theo chuẩn quốc tế.
Thứ năm, khu vực khởi nghiệp văn hóa, nơi các bạn trẻ đang xây dựng những thương hiệu sản phẩm văn hóa Việt vươn ra thế giới.
Còn về thách thức, lớn nhất, và cũng là thách thức suốt đời, là giữ được la bàn đạo đức trong những lúc lợi nhuận và bảo tồn xung đột trực tiếp. Sẽ có ngày các em đứng trước một quyết định khó: một dự án du lịch hứa hẹn doanh thu lớn nhưng đe dọa làm tổn thương một nghi lễ thiêng; một sản phẩm văn hóa bán chạy nhưng thực chất là sự "chiếm dụng văn hóa"; một chiến dịch quảng bá lan tỏa rộng nhưng đơn giản hóa quá mức một thực hành tinh tế.
Chương trình của chúng tôi không hứa sẽ cho các em câu trả lời sẵn. Điều chúng tôi cố gắng làm là rèn luyện cho các em khả năng đặt đúng câu hỏi, hiểu đúng các bên liên quan, và can đảm chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Đó là di sản học tử tế.
Thầy sẽ nói gì với một thí sinh đang yêu văn hóa nhưng còn e ngại về tương lai: Tại sao Di sản học lại là ngành học của những người dẫn đầu xu thế phát triển bền vững?
Tôi muốn nói với em, một bạn trẻ đang đứng giữa ngã ba đường, vừa yêu văn hóa, vừa lo lắng cho tương lai, những điều quan trọng cho suy tư này.
Điều thứ nhất: nỗi e ngại của em là chính đáng, vì xã hội ta vẫn còn quen với suy nghĩ rằng ngành "khoa học cứng" thì có tương lai hơn ngành "khoa học mềm". Nhưng thế giới đang chuyển động theo hướng ngược lại. Khi mọi thứ đều có thể được số hóa, tự động hóa, AI hóa thì cái mà các xã hội, các quốc gia, các doanh nghiệp tìm kiếm nhất chính là bản sắc, ý nghĩa, và chiều sâu văn hóa. Đây không phải là "phụ trợ" cho tăng trưởng mà là lý do tăng trưởng. Liên Hợp Quốc đã đưa văn hóa vào tâm điểm của Mục tiêu Phát triển Bền vững. UNESCO khẳng định không có phát triển bền vững nào tách rời khỏi di sản. Việt Nam đã đưa công nghiệp văn hóa trở thành chiến lược quốc gia.
Điều thứ hai: yêu văn hóa không có nghĩa là phải chọn sự nghèo nàn về kinh tế. Ngành QTTNDS được thiết kế để em vừa được sống cùng đam mê, vừa có công cụ tạo ra giá trị kinh tế từ đam mê đó. Sau bốn năm, em sẽ không chỉ "biết về di sản" mà sẽ biết làm gì với di sản để tạo ra việc làm, doanh thu, tác động xã hội, và vinh dự nghề nghiệp.
Điều thứ ba: thế hệ của em chính là thế hệ sẽ định nghĩa lại Việt Nam trong mắt thế giới. Người ta sẽ không nhớ Việt Nam vì xuất khẩu một mặt hàng nào đó, mà vì Việt Nam đã kể được câu chuyện của mình một cách hấp dẫn nhất, sâu sắc nhất, có sức lay động nhất. Nếu chọn ngành này, em sẽ chính là một trong những người kể câu chuyện đó.
Người dẫn đầu xu thế phát triển bền vững không phải là người chạy nhanh nhất, mà là người biết nhìn xa nhất và đi đúng nhất. Di sản học chính là ngành học của những người biết nhìn cả về quá khứ lẫn tương lai. Đó là phẩm chất rất quý của thời đại này.